túi bao trái bưởi chống ruồi vàng và sâu đục

posted in: Công nghệ, Túi bao trái cây | 0

túi bao trái bưởi chống ruồi vàng và sâu đục, là một biện pháp quan trọng cho người nông dân để bảo vệ trái bưởi trước sự tấn công của rây rầy, côn trùng lên quả. Trên thị trường có rất nhiều loại túi bao trái cây nhưng loại nào sẽ đem lại hiệu quả cao nhất cho người nông dân.

TÚI BAO TRÁI BƯỞI CHỐNG RUỒI VÀNG VÀ SÂU ĐỤC

Các loại túi được sử dụng làm thí nghiệm

Nghiệm thức Loại bao
NT1 Bao lưới nhựa 49 lỗ.cm-2
NT2 Bao vải màn trắng 36 lỗ.cm-2
NT3 Bao vải màn trắng 25 lỗ.cm-2
NT4 Bao vải không dệt loại 30 g.m-2
NT5 Bao giấy không thấm Đài Loan
NT6 Bao vải màn trắng 64 lỗ.cm-2
NT7 Bao vải không dệt loại 20 g.m-2
NT8 Bao vải màn lam 30 lỗ.cm-2
NT9

Đối chứng (không bao)

(trong thí nghiệm này túi bikoo chưa có xuất hiện trên thị trường)

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 9 nghiệm thức, với 8 nghiệm thức là 8 loại bao trái khác nhau và một nghiệm thức đối chứng (không bao trái), 4 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại 5 trái bưởi.

Thí nghiệm được bố trí trên vườn bưởi Lông cổ tại xã Song Thuận-Châu Thành-Tiền Giang. Trước khi bao trái, tiến hành loại bỏ những trái bị hại trong vườn và đem đi tiêu hủy, sau đó phun thuốc BYTV (Emamectìn benzoate), chọn những trái ở giai đoạn khoảng 2-5 tuần tuổi không bị dị dạng và nhiễm sâu đục trái.

dien bien sau dục 300x142 - túi bao trái bưởi chống ruồi vàng và sâu đục

Kết quả đồ thị 1 cho thấy, sâu đục trái đều gây hại trên hai giống bưởi (Da xanh và Lông cổ cò) ở tất cả các thời điểm điều tra từ tháng 11/2013-10/2014 với tỷ lệ nhiễm khác nhau. Trong đó giống bưởi Lông cổ cò có tỷ lệ nhiễm sâu đục trái cao hơn so vói bưởi Da xanh, đặc biệt sâu đục trái gây hại nặng vào các tháng mùa nắng (tháng 11/2013-4/2014). Cụ thể vào tháng 11 và 12/2013, sâu đục trái gây hại trên giống bưởi Lông cồ cò với tỷ lệ nhiễm trung bình/cây là 23,8% và 21,7%/cây, còn trên bưởi Da xanh có tỷ lệ nhiễm lần lượt là 21,8% và 19,2%/cây. Tỷ lệ nhiễm tiếp tục tăng cao vào các tháng 1, 2, 3, 4/2014 lần lượt là (31,5%, 21%, 29,6% va 16,3%/cây) đối với bưởi Lông cổ cò va (18,2%, 25,2%, 25,1% và 8,3%/cây) đối với bưởi Da xanh. Từ tháng 5, 6, 7, 8, 9 thì tỷ lệ nhiễm bắt đầu giảm dần với tỷ lệ nhiễm lần lượt là 6,7% , 2%, 0,5%, 0,0% và 3,54%/cây đối với bưởi Lông cổ cò, còn 4,9%, 4,7%, 1,32%, 1,38% và 3,28%/cây đối với bưởi Da xanh. Đến tháng 10 thì tỷ lệ nhiễm bắt đầu có xu hướng tăng với tỷ lệ 9,9% đối với bưởi Lông cổ cò và 11,2% đối vói bưởi Da xanh. Như vậy, vào giai đoạn mùa nắng (tháng 1, 2, 3, 4, 10, 11, 12) thì sâu đục trái gây hại nặng nhất và tỷ lệ nhiễm giảm dần vào mùa mưa (tháng 5, 6, 7, 8, 9). Kết quả này cũng phù hợp với kết quả của Nguyễn Thành Hiếu và ctv. (2013) (tài liệu chưa công bố), cho rằng khi khảo sát tình hình sâu đục ữái gây hại ữên cây bưởi thì thời điểm sâu đục trái gây hại nặng nhất trong năm tập trung vào các tháng 1, 2, 3, 10, 11 và 12.

Xem bài:   túi bảo vệ trái ảnh hưởng như thế nào ?

Ảnh hưởng các loại bao trái khác nhau đến khả năng gây hại của sâu đục trái bưởi

Tỷ lệ trái bị nhiễm (%)
Xjuai uau 1TSB (a) 2TSB 3TSB 4TSB 5TSB 6TSB
Lưới nhựa 49 lỗ.cm-2 0,0 b 5,0 b 5,0 bc 5,0 bc 5,0 bc 5,0 bc
Vải màn trắng 36 lỗ.cm-2 0,0 b 10,0 b 10,0 b 10,0 b 10,0 b 10,0 b
Vải màn trắng 25 lỗ.cm-2 0,0 b 5,0 b 10,0 b 10,0 b 10,0 b 10,0 b
Vải không dệt loại 30 g.m-2 0,0 b 5,0 b 10,0 b 10,0 b 10,0 b 10,0 b
Giấy không thấm Đài Loan 0,0 b 0,0 c 0,0 c 0,0 c 0,0 c 0,0 c
Vải màn trắng 64 lỗ.cm-2 0,0 b 5,0 b 10,0 b 15,0 b 15,0 b 15,0 b
Vải không dệt loại 20 g.m-2 0,0 b 0,0 c 0,0 c 5,0 bc 5,0 bc 5,0 bc
Vải màn lam 30 lỗ.cm-2 0,0 b 5,0 b 10,0 b 10,0 b 10,0 b 10,0 b
Đối chứng (không bao) 15,0 a 60,0 a 70,0 a 75,0 a 75,0 a 75,0 a
cv (%)

Mức ý nghĩa

23,36

**

36,96

**

49,51

*

58,52

*

58,03

*

57,96

*

Ghi chú: số liệu được chuyển đỏi sang (x + 0.5)1/2 (a) và arcsin (x)lữ trước khi xử lý thống kê. Các số liệu trong cùng một cột cỏ mẫu tự theo sau giống nhau thì khác biệt không có ỷ nghĩa về mặt thong kê qua phép thửLSD. *: khác biệt ở mức 5%; **: khác biệt ở mức 1%. TSB: tháng sau bao.

Mặc dù các nghiệm thức bao trái cũng vẫn bị nhiễm sâu đục trái nhưng tỷ lệ nhiễm không đáng kể so với nghiệm thức không bao trái. Có thể do mật số sâu quá cao hoặc bao trái không triệt để, những trái được bao sát với trái không được bao sẽ bị nhiễm sâu và tấn công qua trái được bao, hoặc độ bền của vật liệu bao. Kết quả thí nghiệm cho thấy đây cũng là biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn sự tấn công của sâu đục trái trên cây bưởi, giúp giảm số lần phun thuốc, hạn chế dư lượng thuốc BVTV tồn dư trong trái, góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe con người. Kết quả này cũng phù hợp với Villalobos (1987) cho rằng bao trái là một biện pháp tốt nhất trong quản lý sâu đục hạt Bephrata cubensis và sâu đục trái Nephopteryx sp. (Biosecurity Autralia, 2010). Thí nghiệm quản lý sâu đục trái Cerconota anonella, (Bustillo và Pena, 1992) cũng cho rằng việc bao trái kết hợp với phun Chlorpyrifos cho hiệu quả cao hơn trong quản lý sâu đục trái so với đối chứng.

Xem bài:   túi bao trái bưởi hiệu quả cao - biện pháp ngăn ngừa

Kết quả khảo sát 8 loại bao trái khác nhau trong suốt thời gian thí nghiệm ở bảng 5, chúng tôi ghi nhận độ bền của các vật liệu bao có sự khác nhau. Chỉ có 4 loại bao Lưới nhựa 49 lỗ.cm-2, Vải màn trắng 36 lỗ.cm-2, Vải màn trắng 25 lỗ.cm-2, Vải màn lam 30 lỗ.cm-2 là có độ bền >= 6 tháng chiếm 100%. Bốn loại bao còn lại chỉ có độ bền khoảng 4 tháng, trong đó Vải không dệt loại 30 g.m-2 và Giấy không thấm Đài Loan, Vải không dệt loại 20 g.m-2 chiếm 15% trong tổng số mỗi loại bao và 85% có độ bền tới thời điểm 6 tháng. Còn Vải màn trắng 64 lỗ.cm-2 có độ bền ở thời điểm 4 tháng chiếm 5% và 95% đến thời điểm 6 tháng, về màu sắc và kích thước trái sau khi bao trái thì tất cả các loại bao thí nghiệm đều không ảnh hưởng đến trái, ngoại trừ Giấy không thấm Đài Loan có màu sắc hơi đậm hơn chiếm 5% và làm ữái bị tổn thương chiếm 25%, cùng với Vải không dệt loại 30 g.m-2 chiếm 5%. Qua quan sát chúng tôi cũng ghi nhận Vải không dệt loại 20 g.m-2 có sự hiện diện của rệp sáp và kiến tấn công vào trong bao trái chiếm 15%. Còn lại tất cả các nghiệm thức còn lại không có sự hiện diện của kiến và rệp sáp.

=> Như kết quả của thí nghiệm, những loại túi trên vẫn không đạt được yêu cầu của người nông dân về bảo vệ trái bưởi trước sự tấn công của sây rầy. Để nâng cao tính hiệu quả của bao trái cây, trước khi bao chung ta phải diệt hết mềm móng sây rầy, thời gian bao trái, và dùng loại túi bao trái hiệu quả nhất

( tài liệu được trích trong viện cây ăn quả miền nam)

Facebook Comments